Thư Viện
PHÁP ĐỘ

PHÁP ĐỘ

TT TS Thiện Minh

PHÁP ĐỘ

 

 

 

 

Đức Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai muốn tu thành Phật phải tu nhiều pháp độ. Người Phật tử tại gia hay xuất gia ai cũng từng ước nguyện thành Phật. Đức Phật tuyên bố: Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Tất cả chúng ta đều có hạt giống giác ngộ.

Hôm nay sư giới thiệu với quý vị con đường tu tập để thành tựu quả vị giống như Phật, như các đại đệ tử của Phật là Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất.  Xuất xứ của nội dung các pháp độ này nằm trong Hành tạng và Phật sử của Tiểu bộ kinh thuộc kinh tạng Pali.

Một hôm ngài Xá Lợi Phất thỉnh cầu Phật nói về hành trình giác ngộ để người sau biết phương pháp hành trì nhằm đạt con đường giác ngộ. Phật thuyết hai bộ kinh này trong cuốn Tiểu bộ kinh, Hạnh tạng và Phật sử (quyển thứ 14 và 15).  Hòa thượng Thích Minh Châu chưa xuất bản hai bộ này. Năm 1995 Sư có dịch bộ Hạnh tạng đã xuất bản, nói về công hạnh, cách tu tập để thành Phật của Phật Thích Ca. Năm 2003, Sư dịch cuốn Chú giải Phật sử dày 1000 trang, nội dung nói về chư Phật trong quá khứ.

Pháp độ: Parami – Đáo bỉ ngạn, nghĩa là đến bờ bên kia, ám chỉ quả vị Phật, là quả Niết Bàn, là quả của người không còn tham, không còn sân, không còn si. Hành pháp độ là vị bồ tát phải thực hành hạnh nguyện: giữa cuộc đời này làm thiện pháp, thiện sự.

Trong kinh chia ra 3 dạng bồ tát: thứ nhất là bồ tát thực hành pháp độ đạt quả vị Thinh văn, thứ hai quả vị Bích Chi Phật - Duyên giác Phật, thứ ba là quả vị Phật Toàn giác ám chỉ cho Phật tổ. Khi bồ tát phát nguyện tu, có 3 cấp : tu hạnh trí tuệ, tu hạnh đức tin và tu hạnh tinh tấn.

Tu hạnh trí tuệ: từ thời gian phát nguyện cho đến khi thành Phật là 20 a tăng kỳ, 100 ngàn đại kiếp. 1 a tăng kỳ được ví dụ hòn đá cao 1 do tuần, 16 cây số ngàn, một trăm năm 1 vị Chư thiên dùng khăn lau tảng đá đó, lau khi nào tảng đá mòn sát mặt đất, thế là một A Tăng Kỳ.

Kiếp ở đây là kiếp của quả địa cầu. Qủa địa cầu có 1 hoặc 5 vị Phật tổ, cũng có những quả địa cầu không có vị phật tổ nào. Qủa địa cầu chúng ta đang sống đây có 5 vị phật tổ. Đức Thích Ca là vị Phật tổ thứ 4. Hết giáo pháp của đức Thích Ca sẽ đến thời giáo pháp của Đức Phật Di Lặc. Hết giáo pháp của Phật Di Lặc thì quả địa cầu sẽ bị hủy hoại bằng lửa. Trên báo chí có thông tin về siêu núi lửa dưới lòng trái đất. Có khả năng khoảng hai triệu năm siêu núi lửa này có khả năng sẽ hủy hoại trái đất. Thông tin này phù hợp với giáo pháp của Đức Phật đã dạy trong bộ Phật sử - Buddhavamsa.

Bồ tát tu hạnh đức tin phải trải qua 40 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Bồ tát tu hạnh tinh tấn phải tu 80 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Phật Di Lặc tu hạnh tinh tấn nên Ngài đã tu 80 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ngài thực hành 10 pháp độ : bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ, tâm xả. Mười pháp độ này bồ tát thực hành rốt ráo, xuyên suốt năm này qua năm nọ, kiếp này qua kiếp khác. Phật Thích Ca tu 20 a tăng kỳ, 100 ngàn đại kiếp. Cho nên có nhiều người nói tu hoài sao không thấy đắc gì hết. Vì mới tu sao đắc. Có những vị bồ tát tu 20 a tăng kỳ, 100 ngàn đại kiếp còn chưa thấy đắc. Nói như vậy không phải để mình nản chí. Qúy vị ngồi đây học đạo có thể nói đã nhiều kiếp học đạo rồi, từng có hạt giống bồ đề, nếu không có chủng tử, tâm nguyện bồ tát thì không sao tu tập được. Quý vị nghe pháp, niệm Phật, ngồi thiền…ai có 10 pháp độ này trong tâm là bồ tát.

 

 

Bố thí

Qúy vị đi chùa cúng dường lễ phẩm là thể hiện tâm thí. Đức Phật dạy: Đường tu bố thí đứng đầu. Bố thí thì phải có tâm thí, vật thí, đối tượng thí. Tâm thí là tâm rộng rãi đối với gia đình, bạn bè, những người chung quanh, đối với cộng đồng, xã hội.  Quý vị đem lễ phẩm đến chùa cúng dường thì chùa là đối tượng thí. Đối tượng thí có rất nhiều như con người, con vật, tổ chức, cộng đồng…Một người muốn tu thành Phật phải có tâm bố thí, nếu không biết bố thí tức không có tâm bồ tát. Tại sao? Tại vì muốn thành phật phải tập xả bỏ tài sản, có buông bỏ được mới thành Phật. Còn dính mắc thì không thành Phật. Tại sao Đức Phật bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, quyền lực danh vọng đi vào rừng tu tập? Vì Ngài đã thực hành tâm thí trong nhiều kiếp lâu xa.

Ở Việt Nam có vua Trần Nhân Tông bỏ ngai vàng mặc áo cà sa lên núi ẩn tu lập ra  phái Thiền Trúc Lâm và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308). Trong lịch sử nước nhà, vua Trần Nhân Tông là một trong những vị vua thiên tài, anh hùng dân tộc đánh tan quân Mộng cổ là đạo quân bách chiến bách thắng thời đó. Nhưng khi đã có tất cả giang sơn trong tay, Đức Vua Trần Nhân Tông gởi lại cho con trai rồi lên núi Yên tử tu hành, buông bỏ tất cả mọi danh vọng, quyền lực, tham ái.

Bây giờ quý vị đi tham quan bằng cáp treo lên núi Yên Tử thấy dễ dàng quá nhưng thời đó đức vua Trần Nhân Tông phải đi bộ lên đỉnh núi. Ngày nay trên núi Yên Tử vẫn còn chùa Đồng- ngôi chùa nhỏ làm toàn bằng đồng thu hút rất nhiều khách tham quan. Chùa Đồng được tạo dựng lại và đúc bằng đồng nguyên chất nặng khoảng 70 tấn vào năm 2006, tọa lạc tại vị trí của chùa Đồng cũ, diện tích gần 20m2,  cao 1.068 mét so với mực nước biển. Chùa Đồng được tôn vinh là một trong mười kỷ lục của châu Á, nơi đây quanh năm mây trắng vờn quanh núi với phong cảnh tuyệt đẹp của Yên Tử.

700 năm đã qua nhưng tâm lực, khí lực của người xưa cao cả biết chừng nào! Ngày nay, lịch sử Việt Nam còn ghi lại lòng yêu nước thương dân của vua Trần Nhân Tông, đặc biệt là quyết định rời bỏ ngai vàng lên núi ẩn tu. Nhân dân Việt Nam đã tôn vinh ngài là Phật Hoàng Trần Nhân Tông một vị vua mà ai ai cũng một lòng tôn kính.

Bố thí tiền bạc, tài sản gọi là bố thí Bờ Kia. Bố thí một phần thân thể gọi là bố thí Bờ Trên. Bố thí mạng sống gọi là bố thí Bờ Cao Thượng.

Hạnh bố thí giúp chúng ta bớt lòng bỏn xẻn. Phật nói sở dĩ ta nghèo là do ta bỏn xẻn, ích kỷ. Nếu tâm rộng lớn sẽ phát sinh sự giàu có. Như vậy muốn đạt cái tâm bồ tát quý vị phải tu tập tâm bố thí, tâm xả bỏ rộng lớn không ngừng. Qúy vị muốn phát triển đời sống tâm linh hãy luôn đến đây nghe pháp bằng tâm bố thí, tâm bồ tát.

 

Trì giới

Trì giới là tập sống đời sống đạo đức, gương mẫu. Quốc gia nào cũng có những quy định pháp luật. Trong đạo Phật, người có đạo đức là người giữ 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới của sa di, giới của tỳ kheo. Người nào giữ giới trang nghiêm sẽ thành tựu về giới, Phật gọi đó là vị bồ tát đang thực hành giới.

Thanh tịnh giới là người giữ giới được  thanh tịnh và trong sạch nhờ có đức tin, thể hiện qua sự giữ gìn giới luật trang nghiêm. Ở ngoài xã hội việc giữ giới thể hiện qua sự chấp hành pháp luật, nội quy, quy định của công ty. Trong tôn giáo, người tu sĩ giữ giới thể hiện qua việc tôn trọng thanh quy của chùa, giữ gìn giới luật mà người tu sĩ đã thọ nhận. Nói thanh tịnh giới bao gồm thanh tịnh và trong sạch. Ngũ căn là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm…Muốn ngũ căn thanh tịnh là người có đạo đức phải kềm chế 5 giác quan này. Ví dụ mắt thấy sắc phải biết kềm chế. Nếu ta thấy người này, người kia không vừa ý, ta nổi nóng lên, điên lên…Tai nghe âm thanh tưởng người ta nói xấu mình bèn phiền não, giận dữ, nghe mùi thối là không chịu nổi, tức mình, cáu giận, chửi rủa hoặc nghe mùi thơm thì ưa thích, hoan hỷ…lưỡi nếm vị thức ăn không hợp ý nên phiền giận, thân xúc chạm sanh lòng mê đắm…Tất cả những cái đó làm tâm ta ô nhiễm. Do vậy phiền não phát sanh từ chỗ ngũ căn không thanh tịnh. Nên quý vị phải biết kềm chế ngũ căn để đời sống an lạc.

Nuôi mạng thanh tịnh: phải có tinh tấn mới nuôi mạng thanh tịnh được. Những nghề như bán rượu, bán vũ khí, buôn người, buôn thú sống…người Phật tử chơn chánh không làm những nghề này.

Quán tưởng thanh tịnh : nhờ có tuệ nên mới quán tưởng thanh tịnh. Người xuất gia trước và sau khi ăn cơm phải dùng trí tuệ quán tưởng vật thực, y phục, thuốc men, chổ ở…là do đàn na tín thí cúng dường để nuôi thân mạng này có đủ sức khỏe làm phật sự. Nhờ quán tưởng như vậy ta mới không phát triển lòng tham, ngược lại thêm nhàm chán và bớt đi lòng nóng giận, ham đắm vật chất để tu tập  đàng hoàng, làm lợi ích cho tăng chúng, cho cộng đồng xã hội. Qúy vị phật tử sống tại gia cũng nên quán tưởng như vậy. Trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng như bom nổ chậm,  nếu muốn chuyển hóa nỗi khổ này quý vị hãy nhớ lại hồi xưa mới quen nhau, quý vị giống như tiên nam sống chung với tiên nữ. Bây giờ thì có lúc giống như tiên nam sống chung với quỷ sứ. Sao ngày xưa quý vị dễ tha thứ cho nhau, bây giờ hết yêu rồi nhìn cái gì cũng thấy ghét.

Một ông tướng về hưu kể chuyện ngày xưa khi mới quen, ông chở người yêu đi qua cây cầu chữ Y ở quận 8 chạy xe bon bon,  mồ hôi nhễ nhại, ướt đẫm cả áo sơ mi. Cô người yêu hỏi anh có mệt không, ông vẫn cười tươi mà nói: không sao, không sao, anh khỏe mà!. Năm năm sau, cũng người phụ nữ đó nay đã làm vợ ông,  cũng chở lên cầu chữ Y bằng chiếc xe đạp như khi xưa từng chở, người đó cũng hỏi y chang câu hỏi năm xưa: anh có mệt không, thì mặt ông sa sầm xuống rồi nói : Bộ trâu bò sao không mệt ? Cho nên cái tâm con người ta thay đổi không ngừng. Trong hoàn cảnh sống hiện tại, đôi lúc quý vị cũng nên  nhớ lại kỷ niệm xưa để tha thứ, an ủi cho nhau. Nếu ta căm ghét một người nào đó, ta sẽ mệt. Do vậy, muốn chuyển hóa cơn giận, hãy nghĩ người kia sắp chết rồi, người kia đang bệnh, hoặc nghĩ ta cũng sắp chết rồi, ta đang bệnh….Vậy giận làm chi cho đau khổ, mệt mỏi, hãy tha thứ, hỷ xả cho nhẹ lòng.

Qúy vị ngồi đây nghe kinh, học pháp, tự mỗi người có những cảm nhận lợi lạc trong tâm. Trong những lúc đó, quý vị hãy quán tưởng và biết ơn cô Cúc là người đã kiên trì tổ chức những buổi sinh hoạt phật pháp như vậy cho quý vị .

 

Xuất gia

Xuất gia là bỏ nhà đi tu. Xuất gia có hình tướng xuất gia, tâm lý xuất gia. Cạo đầu mặc y là hình tướng xuất gia. Tâm thật sự hướng tới con đường giác ngộ, làm gương cho bá tánh là tâm lý xuất gia. Người tu không đàng hoàng chân chánh là chỉ có hình tướng xuất gia, không có tâm lý xuất gia. Cư sĩ tại gia thì có tâm lý thoát tục nhưng chưa có hình tướng xuất gia. Người xuất gia sống đời sống phạm hạnh chơn chánh sẽ thành tựu đạo quả tiến tới giác ngộ. Muốn thành phật phải sống đời sống viễn ly, giúp ta đạt đến giác ngộ nhanh chóng. Các sư trong chùa là những vị xuất gia, là người đang thực hành pháp độ, đang làm bồ tát. Qúy vị rủ bạn bè đến đây tập tụng kinh là đang thực hành pháp độ. Tu thì phải rủ rê nhau. Ăn cơm có canh tu hành có bạn. Người miền Nam hay nói vui là tu hú, nghĩa là tu phải hú ( rủ, kêu, mời, gọi…) tu hú có nghĩa là vậy. Người tu âm thầm tu, không rủ rê ai thì sau thành Phật Độc giác tức Phật cô đơn. Truyền thống Phật giáo Nam Tông hoặc Bắc Tông đều có cho phép người Phật tử tu xuất gia gieo duyên hay còn gọi là xuất gia đoản kỳ. Nghĩa là người phật tử tập sự làm ông sư trong chùa trong thời gian ngắn, có thể một tuần, vài tuần, một năm, vài năm…Trong thời gian xuất gia gieo duyên đó là chúng ta đã gieo hạt giống giác ngộ cho đời này. Có thề đời này ta tu gieo duyên một tuần hay một năm, đời sau ta tu vài năm, đời sau nữa ta tu luôn trọn một kiếp người. Cũng như quý vị đến đây, lúc ban đầu ngồi nghe pháp 10 phút, sau ngồi nghe 30 phút, lần sau nữa ngồi luôn trọn buổi để nghe hết thời giảng Pháp. Cái gì cũng có quá trình của nó, hay nói theo nhà Phật là nhân duyên đầy đủ thì thành tựu mọi việc.

 

 

Trí tuệ

Trí tuệ phát sanh nhờ nghe Pháp, đọc sách, ngồi thiền. Trí tuệ phát sanh giúp ta thấy được chân lý vô thường, khổ, vô ngã, tứ diệu đế, thấy được gìa, bệnh, chết. Thấy được, hiểu được chân lý đó rồi sau này cái già có đến, răng rụng, mắt mờ cũng không hoảng hốt, lo âu, buồn bả, tiếc nuối. Những ngày tháng đến chùa học Phật, ta đã biết thân này là hư huyễn

Dâng hoa cúng dường Phật
Bậc thương xót muôn loài
Dâng hoa cúng dường Pháp
Đạo nhiệm mầu cứu khổ
Dâng hoa cúng dường tăng
Ruộng phước không gì bằng
Hoa tươi đẹp sẽ tàn
Thân giã hợp sẽ tan
Nguyện tu mau chứng đạt
Quả chân thường Níp bàn

Hồi xưa sư nhìn người ta đeo kiếng đọc sách thấy ngồ ngộ. Còn bây giờ sư cũng phải mang kiếng mới đọc sách được. Đó là dấu hiệu ‘’ lão suy vong’’. Có những điều mình không muốn mà nó vẫn tới. Qúy vị dùng trí tuệ quán chiếu con người và vạn vật ở trong quy luật vô thường, luôn thay đổi, vô ngã qua đó ta giữ tâm bình thản trước những biến đổi của cuộc đời.

 

Tinh tấn

Tinh tấn là siêng năng, nổ lực không ngừng. Khóa tu phải có người Trưởng Ban tổ chức nổ lực không ngừng, tinh tấn, quyết tâm, giảng sư nhiệt tâm thuyết giảng, phật tử hưởng ứng phong trào siêng năng tu học. Tất cả điều đó cho thấy chúng ta đều đang hành bồ tát đạo. Nếu không tinh tấn không thành phật được mà thành người cũng không xong. Chúng ta biết học bất cứ môn nào cũng cần siêng năng, chăm chỉ. Tu cũng vậy, cũng cần tinh tấn tụng kinh, niệm phật, ngồi thiền, bố thí, trì giới…Kiếp cuối Đức Phật ngủ một ngày chỉ một tiếng đồng hồ thôi. Thời gian còn lại Ngài hoạt động, tu hành liên tục, tinh tấn không ngừng nghỉ. Cho nên Ngài thọ chỉ có 80 tuổi do làm việc, đi hoằng pháp nhiều.

Hồi nhỏ, Sư vô chùa có được may mắn sống chung với một vị sư tiền bối siêng năng: ngày nào vị sư ấy cũng giữ thời khóa tu hành nhất định: tụng kinh, niệm phật, ngồi thiền, lau chùi, quét dọn…ngày nào cũng làm những việc y chang như vậy và làm năm này qua năm khác. Nhờ gần gũi với vị sư tiền bối đó nên hồi nhỏ sư sớm học thuộc bài học siêng năng, tinh tấn qua hình ảnh vị sư già có đời sống tu hành rất đẹp.

 

 

Nhẫn nại

Nhẫn nại là chịu đựng. Trong cuộc sống ai cũng có những nổi khổ riêng. Đi qua những thăng trầm, thống khổ của cuộc đời ta mới tìm ra lẽ sống. Qúy vị hãy biết cảm ơn những đau khổ, khó khăn trong cuộc sống đã rèn luyện cho ta sức nhẫn nại, bản lĩnh tu tập, lòng từ bi vô lượng. Người đang giận hờn mà nói xin đi tu thì thầy sẽ kêu đi về đi. Bởi vì đi tu như thế là trốn chạy, hãy về mà tìm cách vượt qua nghịch cảnh. Trong gian khổ ta tập hạnh từ bi, khiêm tốn, thương yêu, nhường nhịn. Thân nhịn là khi ghét nhưng miệng không chửi mắng gọi là khẩu nhịn. Trong tâm không suy nghĩ cách hại người ta gọi là ý nhịn. Nhẫn nhục cũng có nghĩa là chịu đựng với tâm bao dung, tha thứ. Không phải lúc nào ta làm Phật sự cũng luôn luôn được’’ thuận buồm xuôi gió’’ mà đôi khi gặp phải những trắc trở, ngăn cản, chỉ trích, dèm pha, nói xấu, vu khống. Lúc đó, người tu pháp nhẫn nại phải biết chịu đựng. Nhẫn nại không phải là một pháp dễ tu. Nhưng nếu quý vị không rèn luyện sức kham nhẫn chúng ta sẽ không vượt qua những khó khăn và sẽ thất bại. Như vậy, một khi bị ai đó hiếp đáp, xúc phạm, gây phiền não…ta coi đó như là cơ hội thử thách tâm nhẫn nại của ta. Chỉ cần quý vị nhớ rằng nhẫn nhục chịu đựng nhưng không thù hận trong lòng, không đau khổ, không phiền não, mà là nhẫn nhục với tâm vị tha. Tất cả điều ấy là thực hành tâm bồ tát.

Sức mạnh trẻ thơ là tiếng khóc, sức mạnh của vua là quyền lực, sức mạnh người ngu là áp đảo, sức mạnh của tên ăn trộm là vũ khí, sức mạnh người hiền trí là tiết độ, sức mạnh người tu là nhịn nhục. Do vậy, nhịn nhục là một trong mười pháp tu để thành Phật. Qúy vị ứng dụng pháp nhịn nhục trong đời sống ở nơi làm việc, trong gia đình là thấy khỏe liền.

 

Chân thật

Chân thật là sống trung thực, ngay thẳng, không dối láo. Sống chân thật giúp ta có nhiều bạn bè, nhiều người thương quý, ta sống không lo lắng, sợ hãi. Người không chân thật sống chung với ai cũng làm người khác không an tâm vì cứ phải đề phòng sự gian dối, giảo hoạt của họ trong lời nói và hành động. Ví dụ, quý vị ở chung phòng với người có tánh ăn cắp, tự ý lấy đồ dùng của người khác xài mà không xin phép thì quý vị cũng sẽ cảm thấy không vui. Trong truyền thống Phật giáo Nam Tông, vật phẩm cúng dường phải được dâng tận tay nhà sư. Lý do là xưa kia, người xuất gia ở trong rừng, trong các khu nghĩa địa. Khi người ta cúng, các thầy tu lấy đồ cúng chưa ai cho để ăn nên bị người dân than phiền đến đức Phật. Do vậy Phật liền chế ra quy định những ai muốn cúng dường vật phẩm cho các thầy tu thì phải dâng tận tay. Như thế các thầy tu cũng chỉ được phép thọ nhận những gì mà người khác dâng đến tận tay. Nếu tự ý dùng những vật phẩm chưa dâng tận tay thì coi thầy tu  phạm giới lấy của không cho, gọi là ăn cắp.

Người sống chân thật thường hay biết lỗi mình, nhận lỗi mình, không bao giờ muốn làm việc ác. Cho nên người sống chân thật là người có tâm lành, tâm thiện. Sống chân thật là đạo đức cần thiết quan trọng của người xuất gia. Vì sống chân thật mới tạo được niềm tin nơi Phật tử, qua đó họ tin vào chánh pháp. Người tu hành có lời nói và hành động chân thật, tự nhiên có oai đức và đạo lực đem lại thiện pháp cho người khác. Cho nên người tu thường chịu thiệt thòi về mình cũng là để được sống chân thật.
Hạnh sống chân thật là hạnh của người tu Phật, tâm mong muốn làm cho người khác an vui,  không lo lắng. Tâm chân thật là tâm bồ tát.

 

Quyết định.

Quyết định là làm cái gì cũng phải có quyết tâm cao. Ví dụ như quý vị có ý đến đây nghe pháp thì dù trời mưa thì vẫn quyết định đi, không thay đổi ý. Khi làm việc gì dù gặp trắc trở cũng phải quyết định vượt qua. Pháp quyết định là pháp then chốt trong 10 pháp độ thể hiện quyết tâm cao, ý chí cao.

Người ta nói rằng: đừng cải lý với kẻ say, không bắt tay với kẻ xấu, không chiến đấu với kẻ liều, không nói nhiều với kẻ ngu…Có quyết định thì ta mới đạt đến mục đích của mình.

 

Tâm từ

Tâm từ là lòng từ bi, là có tình thương đối với người khác không điều kiện. Tâm từ không chỉ là ta thương yêu cha mẹ, sư phụ, vợ chồng, con cái, bạn bè mà đối với người hàng xóm, láng giềng, người không quen biết cũng đem tình thương bao la rộng lớn mà đối đãi với họ. Tâm từ là chất liệu cần thiết cho cuộc sống. Tình thương của tâm từ giúp ta vượt qua trở ngại, cứu độ chúng sanh. Đức Phật tu pháp độ này vì có hằng hà sa chúng sanh đang cần Ngài cứu vớt. Tâm từ hay nói cách khác là lòng từ bi của Phật luôn luôn che chở tất cả chúng sanh, ôm ấp muôn loài, không bỏ sót một ai. Người tu Phật tu pháp tâm từ mà chưa giảm bớt ngã chấp tức là chưa có lòng từ bi. Các Sư, các cô tu nữ xuất gia có một đời sống lục hòa nhẹ nhàng, cố gắng tu tập sao cho lòng thương yêu chúng sanh ngày càng tăng trưởng, lòng thương yêu riêng tư ngày càng giảm dần, nhỏ lại. Người xuất gia tu pháp tâm từ là tập thương yêu những người cùng sống chung trong chùa vốn là những người xa lạ nhưng có nhân duyên và cùng chí hướng tu hành, cùng chung một Thầy. Chính vì vậy, tu tâm từ là tập thương yêu chúng trong chùa, những người ta gặp hằng ngày, quan tâm, san sẻ với họ từ vật chất đến tinh thần. Có thương yêu bạn hữu tu chung trong chùa thì ta mới mở lòng ra thương yêu tiếp độ vô số chúng sanh khác được. Người con Phật tu pháp tâm từ cố gắng để trở thành bóng mát cho chúng sanh nương tựa, an ủi chúng sanh vốn luôn mệt mỏi vì khổ đau trong cuộc sống hằng ngày. Tu tập pháp tâm từ rất khó. Vì nếu không có trí tuệ ta sẽ không thể tự nhiên mà dẹp bỏ bản ngã để khởi phát tâm từ nguyện yêu thương tất cả chúng sanh ( trong đó có những người từng làm tổn hại ta). Nếu ta vượt qua  lòng giận thù để thương yêu được kẻ đã hại mình thì đó chính là phước báu vì ta tránh được ý niệm trả thù trong tương lai, tránh được việc gieo hạt giống bất thiện cũng là tránh được nghiệp ác. Nếu ta chưa thành Phật nhưng ta có tâm từ thì ít ra lòng từ bi cũng giúp ta đem an vui, lợi ích cho mọi người, sống một cuộc đời thực sự bình yên.

 

 

 

 

 

Tâm xả

Xả là buông bỏ. Khen cũng xả mà chê cũng xả. Không có tâm xả, ta sẽ đau khổ hoài vì cố chấp, ôm giữ, dính mắc. Người có tâm xả là biết tha thứ. Nếu chưa thành Phật ngồi trên tòa sen thì sống trong đời ai cũng có lỗi lầm. Ta có ưu điểm và có cả khuyết điểm. Người khác cũng vậy. Cho nên tu pháp xả tâm là rèn luyện tâm từ vô lượng để có thể kiên nhẫn giúp người khác vượt qua lỗi lầm bằng tâm yêu thương tha thứ của ta. Chúng sanh vô biên vô lượng lỗi lầm thì tâm xả cũng phải vô biên vô lượng y chang như vậy.

Lưu ý, bồ tát tu 10 pháp độ này, trong mỗi pháp chia ra làm 3 cấp độ. Ví dụ, bố thí thì có bố thí Bờ Trên, Bờ Kia, Bờ Cao Thượng. Bờ Trên thành tựu quả vị Phật Thinh Văn giác. Bờ Kia thành tựu quả vị Phật Độc giác. Bờ Cao Thượng thành tựu quả vị Phật Toàn giác. Muốn thành Phật Toàn giác phải tu 30 pháp . Muốn thành Phật Độc Giác phải tu 20 pháp. Muốn thành Phật Thinh Văn giác phải tu 10 pháp.

Bố thí Bờ Cao Thượng là bố thí mạng sống. Vì sao phải bố thí mạng sống? Vì chưa thành Phật mà dám bỏ mạng sống thì chằng có cái chi không bỏ được, như vậy mới thành Phật. Nếu tu mà sợ chết, sợ bệnh, sợ xấu, sợ già, sợ nghèo, sợ mất… thì không thành đạo, không chứng đắc được. Tâm không còn luyến ái thân mạng, tài sản, quyền lực, danh vọng ...thì mới thành Phật được.

Tu trí tuệ phải trải qua 20 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ta phát nguyện trong tâm tu 7 a tăng kỳ hoặc nói ra bằng lời tu 9 a tăng kỳ, Phật thọ ký 20 a tăng kỳ cho ta. Vị bồ tát phát nguyện tu hạnh trí tuệ, sau nếu gặp pháp thì độ liền. Có 6 định hướng hay nói cách khác là 6 nhân tướng: tánh tham sân si giảm bớt, tâm quyết định xuất gia, thích sống viễn ly nơi yên tịnh, vắng vẻ…giúp ta nhận ra được tâm bồ tát ở một hành giả trên con đường tu tập giải thoát hướng đến giác ngộ.

Pháp độ là con đường đi đến giác ngộ thành Phật Độc giác, Phật Toàn giác, Thinh Văn giác. Đó là những cách thực hành khác nhau để thành tựu quả vị Phật, không còn thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật và vô minh.Ở một vị Phật Toàn giác thì 10 phiền não đã đoạn trừ, có thần thông, hào quang hơn Phật Độc giác. Ở vị Phật Độc Gíac thì trí huệ, thần thông, hào quang hơn vị Phật Thinh Văn giác.

Mười pháp độ Sư nói trên đây là những phương tiện đưa chúng ta đi trên con đường để giúp chúng ta thành tựu đạo đức cao cả, giải thoát ngã chấp sâu dày, sống đời từ bi, quên mình vì lợi ích của chúng sanh.
Mong 10 pháp độ này giúp cho chúng ta thấy biết con đường thành Phật, sống một đời  an lạc giữa thế gian.

 

 

Chuyển biên: TN Quang Duyên

Theo: Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 28 và 29

thienvienphuocson.net

Images by: www.hanhhuongdulich.com

Các tin khác