Phật Học - Thiền Định

TÁM NGUỒN CÔNG ĐỨC SANH TRỜI NGƯỜI

 

 

 

 

Đề tài chúng ta học ngày hôm nay về tám nguồn công đức sanh trời người. Đây là một pháp thực tế về nguồn sống tâm linh tạo sự an vui cho đời hiện tại cũng như an vui cho đời tương lai. Qua đó chúng ta thấy rằng đạo Phật không chủ trương một vấn đề cầu nguyện suông.

 

Thông thường thì người ta nghĩ rằng người chết nhờ tụng kinh hộ niệm nên mới được sanh làm trời làm người, nhưng ở đây chúng ta thấy rằng chính do công đức đã làm mà người ta mới được tái sanh vào cảnh trời cảnh người. Người Phật tử chân chánh có trí tuệ biết pháp thì chúng ta nên lưu ý ở điểm này.

 

Khi đề cập đến tám pháp là nguồn công đức sanh trời người, Đức Phật đề cập đến hai điều: Một là qui y Tam Bảo, hai là thọ trì năm giới. Nhưng trong Tăng Chi Bộ Kinh, quyển bốn, Đức Phật không chỉ nói đơn giản như chúng ta thường nghe về Tam Qui và Ngũ giới, mà nêu rõ tám chi tiết. Khi nói đến một người qui y Phật Pháp Tăng, người ta thường nghĩ rằng đây là vấn đề thuộc lĩnh vực tôn giáo. Vì vậy, một số người khi chưa có niềm tin nơi Phật Pháp Tăng, chưa phải là người Phật tử thì tự nhiên họ cảm thấy điều đó không cần thiết đối với họ. Nhưng ở đây hãy tìm hiểu và chúng ta sẽ thấy giá trị của Tam qui và Ngũ giới không giới hạn trong phạm vi tôn giáo.

 

Tại sao quy ngưỡng về ba ngôi báu đó sẽ tạo cho chúng ta nguồn công đức để sanh trời người? Trước nhất là quy y Phật. Trên thế gian này, Đức Phật là bậc hoàn toàn Giác ngộ. Ngài tự để tự giải thoát cho chính mình và sau đó thuyết pháp để dắt dẫn chúng sanh cùng đến chỗ giải thoát như Ngài. Trong kinh tập Sutta Nipata có nói : Giữa các loài hai chân, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác là tối thượng.

 

Bậc Chánh Giác đây chính là Đức Phật và giữa các loài hai chân là chỉ Chư Thiên và nhân loại. Khi những con người khác hay các vị Chư Thiên Phạm Thiên, đang sống đắm chìm trong dục lạc hữu trần hay đắm chìm trong hạnh phúc của quả phước mà họ đã tạo, luôn luôn bị vô minh che lấp làm cho không thấy con đường để chấm dứt tử sanh, giữa các loài hai chân như vậy, có một bậc đã tự mình giác ngộ. Đức Phật con gà con mạnh nhất nằm bên trong một trong số những quả trứng của một con gà mái đang ấp, nó dùng cái mỏ chọc thủng vỏ trứng và thoát ra bên ngoài. Đức Phật ví dụ rằng con gà đó xứng đáng là con gà đầu đàn.

 

Cũng vậy giữa chúng sanh sống trong tăm tối, Đức Phật là người đầu tiên đã phá vỡ vỏ trứng vô minh để thoát ra bên ngoài và tìm được ánh sáng chân lý, vì vậy Ngài là bậc tối thượng ở đời. Giáo pháp của Ngài là giáo pháp được khéo thuyết, giáo pháp của chân thiện mỹ. Lời dạy của Đức Chánh Đẳng Chánh Giác không phải là những tín điều, không phải là những lời nói mơ hồ huyễn hoặc, hay là những thuyết lý xa xôi, hoặc là những lời hứa hẹn cho con người sống quên thực tại. Không phải vậy. Lời dạy của Đức Phật trước nhất là được khéo thuyết bởi văn nghĩa cụ túc, thứ hai là thiết thực hiện tại, như chúng ta đã được nghe trong những bài thuyết cho người cư sĩ thì những bài thuyết đó hoàn toàn thiết thực.

 

Giáo pháp này, Đức Phật thuyết chỉ để nói lên thực tế về sự khổ, Ngài trình bày về nguyên nhân sanh khổ, và Ngài chỉ cho thấy sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Ngài chỉ thuyết lên sự thật, vì vậy giáo pháp này vượt ngoài thời gian không bị giới hạn bởi không gian. Nó, không chỉ có giá trị ở thời Đức Phật còn tại thế mà thôi, cho đến ngày hôm nay chúng ta vẫn thấy những lời dạy đó thiết thực và cho đến ngày sau trong tương lai cũng vậy. Ai hiểu và thực hành theo đó Giáo pháp của Đức Phật thời cũng sẽ được sự an lạc hạnh phúc. Cho nên giáo pháp này gọi là vượt ngoài thời gian.

 

Và giáo pháp Đức Phật, Ngài thuyết để đến mà thấy chứ không phải đến để mà tin, tin một cách mù mờ. Hãy đến để thấy được chân lý, thấy được giá trị của sự thật và thấy được cách sống như thế nào có lợi ích đời này đời sau, Ngài nêu rõ. Và chúng ta là những người sau khi được chỉ cho thấy con đường đó phải tự thực hành để đạt được sự an vui mãi mãi.

 

Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn không phải là những vị giáo sĩ trung gian dười hình thức của những người mặc giáo phục từ sáng cho đến chiều chỉ tụng niệm hay giúp cho người cư sĩ hoàn tất các nghi lễ tôn giáo. Không phải như vậy. Tăng chúng đệ tử của Đức Phật những vị đã thấy rõ cuộc đời là phù du giả tạm, các Ngài đã từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không gia đình, sống đời sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Đức Thế Tôn, các Ngài nỗ lực tinh tấn sống chánh niệm tỉnh giác trong thiền định để đoạn trừ những phiền não, cắt đứt mọi kiết sử ràng buộc và các Ngài đã đạt từ thánh quả Tư Đà Huờn,đếnTư Đà Hàm, A Na Hàm và cuối cùng cái thánh quả cao nhất trong đời sống phạm hạnh là quả vị A La Hán. Tăng chúng đệ tử của Đức Phật chỉ là những vị tu hành theo đường lối của Đức Phật để tự giải thoát bản thân khỏi luân hồi sanh tử, song song đó các Ngài thay mặt Đức Thế Tôn để dạy những Giáo pháp của Ngài cho các cư sĩ nghe và hướng dẫn họ thực hành. Chỉ khi nào người cư sĩ cần sự hổ trợ tinh thần thì Chư Tăng mới tụng đọc những bài Kinh, những Phật ngôn có uy lực để giúp tăng trưởng niềm tin của người cư sĩ, đây là trường hợp mà chúng ta gọi là tụng kinh cầu an. Do vậy, chúng ta phải luôn nhớ rằng Tăng chúng thay mặt Đức Phật thuyết pháp hướng dẫn cho người Phật tử tu tập khi Đức Thế Tôn đi vắng hoặc khi Đức Thế Tôn đã Niết-bàn. Nếu chúng ta hiểu điều này thì chúng ta thấy giá trị của ba ngôi báu là Đức Phật, giáo pháp và Chư Tăng, đây không phải là những gì huyền bí mà chính là một sự thật.

 

Khi một người có lòng tịnh tín nơi Đức Phật có nghĩa là người đó đã thấy được giá trị của con đường thoát khổ mà chính Đức Phật đã đi qua và đạt đến mục đích. Một người quy y Pháp tức là một người đã thấy được giá trị thiết thực hiện tại của Giáo pháp rồi tự họ phát nguyện xin nương tựa giáo pháp, nương tựa lời dạy của Đức Thế Tôn, kể từ nay trở đi trong đời sống luôn luôn con thực hành theo lời dạy của Đức Phật để làm cho cuộc sống được an lạc và làm cho người khác được an lạc là. Con xin quy y Tăng vì con nghĩ rằng giáo pháp này còn được duy trì cho đến ngày hôm nay là do nhờ ở Tăng chúng. Có Chư Tăng thuyết pháp dẫn giải cho con hiểu được lời dạy của Đức Phật nên con mới thực hành Giáo pháp được tốt đẹp.

 

Chúng ta thấy giá trị của Tăng chúng như vậy nên chúng ta qui y Tam Bảo. Chúng ta quy y Phật, Pháp, Tăng, không có nghĩa là chúng ta nương tựa cầu vọng tha lực Tam Bảo để gia hộ hay là để ban phước lành cho chúng ta, mà chúng ta thể hiện được tâm hướng thiện từ bỏ những điều ác, tích cực làm các việc lành. Trau dồi tâm trong sạch bằng cách nương tựa Đức Phật nương tựa giáo pháp của Đức Phật, nương tựa Tăng chúng đệ tử của Đức Phật để luôn luôn lúc nào cũng được nhắc nhở khích lệ mà tu tập. Nếu chúng ta qui y Tam Bảo với ý nghĩa đó, với thái độ đó, thì sự qui y này mới thật sự là nguồn công đức để giúp cho chúng ta sanh vào cõi trời người sau khi chúng ta mệnh chung. Cho nên đối với một người Phật tử chân chánh lòng tin qui y Tam Bảo chừng nào họ càng là người có đạo đức nhiều chừng đó, bởi vì họ xét thấy rằng Đức Phật là bậc Vô Thượng Sĩ Anuttaro là bậc có đức hạnh không ai bì.

 

Đức Phật đã từng dạy rằng nếu là một tảng đá ném xuống hồ nó sẽ chìm và không ai có thể cầu nguyện để cho tảng đá nổi lên được, và nếu dầu đổ xuống hồ thì cũng không ai nguyền rủa cho dầu chìm xuống đáy nước. Cái gì nhẹ thì sẽ nổi và cái gì nặng sẽ chìm, mà cái nhẹ ở đây tức là tu tập về thiện pháp và nặng ở đây là thực hành ác pháp. Phật tử qui y Tam Bảo có nghĩa là chúng ta nương vào ý chí và nương vào lời dạy của bậc Giác ngộ để chúng ta làm nhẹ đi nghiệp chướng, để sau khi mệnh chung được nổi lên, tức là được sanh vào cõi trời người; đồng thời chúng ta từ bỏ những ác pháp để sau khi mệnh chung không bị chìm xuống nghĩa là tái sanh vào các cõi điạ ngục, ngạ qủi, súc sanh và a tu la. Như vậy, sanh ở cõi trời người hay không là tùy thuộc vào tinh thần, thái độ tu tập của chúng ta, còn sự qui y Tam Bảo chỉ có nghĩa làm cẩm nang cho chúng ta, chỉ cho chúng ta phương hướng để đi. Điều này cũng giống như những chiếc tàu hay thuyền đi trên biển cả, cần có những ngọn hải đăng và các hoa tiêu để hướng dẫn, nếu không sẽ va chạm vào đá ngầm trong đêm tối. Tuy nhiên, người thuyền trưởng không thể ỷ lại vào các ngọn hải đăng rồi phó mặc con tàu cho biển khơi, mà phải tự mình lèo lái con tàu vượt qua sóng gió.

 

Bây giờ chúng ta nói đến vấn đề giữ năm giới. Trong bài kinh này Đức Phật đặc biệt dùng đến cụm từ abhayadānaṃ là vô úy thí.

Có ba loại bố thí:  Một là tài thí Dravyadàna tức là bố thí về vật chất, chia sẻ đến người khác về vật chất.  Hai hai là pháp thí Dharmadàna tức là ban bố cho người khác những thiện ngôn, những lời hay ý đẹp, những Phật ngôn mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng, để họ nghe hiểu và thực hành theo. Đó gọi là pháp thí. Chúng ta cho người khác một ít kiến thức Phật pháp cũng được gọi là pháp thí.  Ba là vô uý thí.

Có một loại vô úy thí là ban bố cho người khác sự an lành, an toàn, không có sự sợ hãi. Người cha hay người mẹ bảo vệ đứa con, khi con khóc hoặc là sợ bóng tối, an ủi vỗ về và làm cho con cảm thấy vững tâm không còn sợ hãi, đó gọi là vô úy thí.

Nhưng vô úy thí ở Phật giáo rất là cụ thể. Đức Phật Ngài khẳng định một điều là: Bố thí tài sản gọi là tài thí. Thuyết pháp cho người khác nghe gọi là pháp thí. Giữ giới gọi là vô úy thí. Tại sao vậy?

Ngũ giới Panca Sila được gọi là manussa dhamma có nghĩa là đạo đức của loài người, đó là một giới hạnh, một đức độ có từ ngàn xưa, Đức Phật chỉ lập lại và khuyến khích chúng ta sống và thực hành như vậy. Ở đây chúng tôi muốn nói rằng ngũ giới có trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời và con người đã biết giữ ngũ giới , bởi vì đó là đức độ mà các bậc hiền trí đã nghĩ ra và đã thực hành để đem đến sự an vui cho mình và cho người khác.

 

- Trước hết là khi chúng ta giữ giới không sát sanh. Sát sanh có nghĩa là cướp đoạt mạng sống của chúng sanh khác. Người mà quen tánh sát sanh xem thường mạng sống của chúng sanh khác, muốn cho sống thì sống, muốn bắt chết thì chết, người đó luôn luôn là nỗi ám ảnh của chúng sanh khác. Vì vậy, Phật tử chúng ta giữ giới từ bỏ sự sát sanh thì không những chúng ta tự tạo cho mình một sự an vui do tâm không độc ác mà chúng ta còn ban bố sự an tâm cho người khác, ban bố sự thanh bình cho người khác khiến, cho người khác cảm thấy thoải mái yên tâm không lo sợ khi họ sống gần chúng ta, như vậy gọi là vô úy thí do sự không sát sanh.

- Giới thứ hai không trộm cắp cũng vậy, được gọi là vô úy thí bởi vì khi người khác có tài sản họ rất sợ trộm cướp, nhất là những vụ trộm cướp có vũ trang. Vì vậy khi một người giữ giới từ bỏ sự trộm cắp, chúng ta đã ban bố cho chúng sanh khác thêm một sự không sợ hãi. Đây chính là vô úy thì do sự không trộm cắp.

- Giới thứ ba, không tà ác trong các dục, nói một cách nôm na là không tà dâm, không phá hoại gia cang của người khác, không làm mất đi hạnh phúc của gia đình khác. Ví dụ như trong một gia đình chồng vợ đang sống hạnh phúc nhưng bất chợt có một người thứ ba xen vào làm cho tình cảm của vợ chồng họ lạnh nhạt và bắt đầu rạn nứt, đó là nỗi đau khổ ám ảnh xã hội loài người. Khi người Phật tử sống từ bỏ tà hạnh trong các dục, có sự tri túc trong tình cảm vợ chồng, không nghĩ đến việc xen vào phá hoại gia cang của người khác hay phá hoại tiết trinh của người khác làm cho người khác bị đau khổ phải bị mang tai tiếng v.v... Phật tử đó đã ban bố cho chúng sanh sự an lành. đây là vô úy thí do không ta hạnh

- Giới thứ tư, không nói dối. Sự dối trá làm cho chúng sanh bị mất tài sản hoặc lâm vào những hoàn cảnh nghiệt ngã . Sự dối trá làm người ta tiền mất tật mang cho nên ai cũng sợ mình bị lừa gạt về tình cảm, bị lừa gạt về tài sản v.v... Vì vậy, người Phật tử giữ giới, từ bỏ sự nói dối, sống với pháp chân thật thì chính người Phật tử đó đã ban bố cho chúng sanh sự an lành, an toàn, không sợ hãi. Đây gọi là vô úy thí do không nói dối.

- Giới thứ năm, không uống rượu. Những người uống rượu thường cho rằng nhờ có rượu nên tình giao giữa bạn bè mới thắt chặc. Đó chỉ là do chúng ta nói thôi chứ các bậc hiền triết xưa nay luôn luôn cảnh giác rằng một người nghiện ngập rượu chè là mối đại họa cho người khác. Thứ nhất, khi một người say sưa, không ý thức không tự chủ được bản thân của mình thì có thể giết người, có thể hãm hiếp phụ nữ, hoặc họ có thể quậy phá làng xóm, có thể đánh đập cha mẹ hay chửi mắng vợ con v.v... quả là một mối tai họa, một nỗi lo sợ cho những người chung quanh chớ không phải là một sự yên ổn. Vì vậy, một người Phật tử sống từ bỏ uống rượu và chất say, từ bỏ sự nghiện ngập rượu chè cũng sẽ làm cho mọi người trong gia đình và xóm làng được an vui, không có sự lo sợ. Như vậy gọi là vô úy thí tức là bố thí sự không lo sợ.

Giữ Năm giới Đức Phật đã nói đến là một cách bố thí sự an vui cho người khác, bố thí sự không sợ hãi đến người khác. Chính do mình không làm cho người khác bị sợ hãi mà lại còn ban cho họ sự an toàn, sự an lành, đây là nguồn công đức để cho người giữ giới được tái sanh về cõi trời hay cõi người. Như vậy ở đây trong pháp môn này chúng ta có hai phần: Một phần là chúng ta qui y Tam Bảo là để chúng ta cũng cố thiện pháp, phần kia là chúng ta giữ giới để chúng ta ban rải sự an lành đến cho chúng sanh khác. Cũng cố thiện pháp cho mình và ban rải sự an lành cho chúng sanh khác chính là nguồn công đức được đưa chúng ta tái sanh về cõi trời hay cõi người.

Chuyển biên: Minh Hạnh

Biên tập: Tuệ Đăng

Nguồn: phapluan.net

Các tin khác